VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG CẶP VÀ NHÓM TRONG VIỆC NÂNG CAO KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH CHO SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
DOI:
https://doi.org/10.51453/3093-3706/2025/1388Từ khóa:
Năng lực, Môi trường, Hoạt động cặp và nhóm, Cải thiện, Giao tiếpTóm tắt
Mục tiêu của việc dạy học ngoại ngữ là giúp người học phát triển năng lực giao tiếp, sử dụng ngoại ngữ như một công cụ để tiếp cận kiến thức, văn hóa, và làm việc trong môi trường hội nhập. Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển năng lực giao tiếp cho sinh viên, các nhà thầy cô giáo luôn tích cực đổi mới để tìm những phương pháp phù hợp cho từng đối tượng người học. Tuy nhiện, việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên không chuyên vẫn là một thách thức lớn trong bối cảnh giáo dục đại học. Tại Trường Đại học Tân Trào, sinh viên thường gặp khó khăn về vốn từ vựng, sự tự tin và cơ hội giao tiếp thực tế. Hoạt động cặp và nhóm được xem là giải pháp hữu hiệu giúp tăng cường tương tác, mở rộng thời gian nói và phát triển năng lực giao tiếp. Bài viết này phân tích cơ sở lý luận, các mô hình hoạt động cặp, nhóm, những khó khăn thường gặp và các giải pháp thực tiễn nhằm cải thiện kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên không chuyên. Kết quả cho thấy khi được thiết kế phù hợp, các hoạt động cặp và nhóm không chỉ tạo môi trường học tập hỗ trợ, giảm lo lắng mà còn nâng cao đáng kể độ trôi chảy, độ chính xác và sự sẵn sàng giao tiếp của người học.
Tải xuống
Tài liệu tham khảo
1. Harmer, J. (2015). The Practice of English Language Teaching (5th ed.). Pearson Education.
2. Jacobs, G., & Hall, S. (2002). Implementing cooperative learning. In J. Richards & W. Renandya (Eds.), Methodology in language teaching (pp. 52–58). Cambridge University Press.
3. Johnson, D. W., & Johnson, R. T. (1999). Learning together and alone: Cooperative, competitive, and individualistic learning (5th ed.). Allyn & Bacon.
4. Le, T. T., & Do, H. T. (2018). Challenges in implementing group work activities in Vietnamese EFL classrooms. VNU Journal of Foreign Studies, 34(2), 45–57.
5. Nguyen, T. M., & Pham, L. H. (2020). English proficiency and employability in Vietnam: Current trends and implications. Journal of Language and Education, 6(4), 65–75.
6. Nguyen, T. T., & Tran, T. Q. (2019). Group discussion and willingness to communicate among Vietnamese EFL learners. Asian EFL Journal, 21(2), 120–140.
7. Pham, T. H. (2014). The effects of pair work on Vietnamese EFL learners’ comprehensible output. English Language Teaching, 7(2), 30–40.
8. Sato, M., & Ballinger, S. (2016). Peer interaction and second language learning: Pedagogical implications and research findings. John Benjamins.
9. Storch, N. (2007). Investigating the merits of pair work on a text-editing task in ESL classes. Language Teaching Research, 11(2), 143–159.
10. Swain, M. (2013). The inseparability of cognition and emotion in second language learning. Language Teaching, 46(2), 195–207.
11. Tran, T. H. (2021). Difficulties in developing speaking skills among non-English majors in Vietnamese universities. Journal of Education and Practice, 12(3), 55–63
12. Trinh, V. T. T., & Trinh, Q. L. (2024). Promoting Speaking Skills through Group-work Activities: A Case Study of Non-English Majored Students. Thu Dau Mot University Journal of Science.
13. Nguyen, T. T. H. (2023). Challenges in teaching speaking skills to ethnic minority students at regional universities in Viet Nam. Journal of Language and Life.
Tải xuống
Đã Xuất bản
Cách trích dẫn
Số
Chuyên mục
Giấy phép
Tác phẩm này được cấp phép theo Giấy phép Quốc tế Creative Commons Attribution-ShareAlike 4.0 .
Bài báo được xuất bản ở Tạp chí Khoa học Đại học Tân Trào được cấp phép theo giấy phép Ghi công - Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế (CC BY-SA). Theo đó, các tác giả khác có thể sao chép, chuyển đổi hay phân phối lại các bài báo này với mục đích hợp pháp trên mọi phương tiện, với điều kiện họ trích dẫn tác giả, Tạp chí Khoa học Đại học Tân Trào và đường link đến bản quyền; nêu rõ các thay đổi đã thực hiện và các nghiên cứu đăng lại được tiến hành theo cùng một bản quyền.
Bản quyền bài báo thuộc về các tác giả, không hạn chế số lượng. Tạp chí Khoa học Tân Trào được cấp giấy phép không độc quyền để xuất bản bài báo với tư cách nhà xuất bản nguồn, kèm theo quyền thương mại để in các bài báo cung cấp cho các thư viện và cá nhân.
Mặc dù các điều khoản của giấy phép CC BY-SA không dành cho các tác giả (với tư cách là người giữ bản quyền của bài báo, họ không bị hạn chế về quyền hạn), khi gửi bài tới Tạp chí Khoa học Đại học Tân Trào, tác giả cần đáp ứng quyền của độc giả, và cần cấp quyền cho bên thứ 3 sử dụng bài báo của họ trong phạm vi của giấy phép.
